Tin tức » Nghiên cứu khoa học
 
Cỡ chữ
Nghiên cứu giá trị của bảng điểm RTS, ISS, TRISS để đánh giá độ nặng và tiên lượng tử vong ở bệnh nhân chấn thương tại bệnh viện tuyến tỉnh
Cập nhật: 10.12.2013 15:04

.

TÓM TẮT          

Nghiên cứu tiến cứu trên 3306 bệnh nhân chấn thương tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình trong giai đoạn 2008-2011 (bệnh nhân sống: 3256, bệnh nhân tử vong: 50). Dùng các tiêu chuẩn đánh giá của ba bảng điểm RTS, ISS và TRISS  để lượng hóa độ nặng và giá trị dự báo nguy cơ tử vong.

Kết quả:

Các bảng điểm RTS, ISS và TRISS có khả năng đánh giá chính xác độ nặng và dự báo nguy cơ tử vong ở bệnh nhân chấn thương.

- Điểm RTS: 11,8 ± 0,76 (0-12), có giá trị phân loại và tiên lượng nguy cơ tử vong do chấn thương với điểm cắt RTS = 10 (Se = 99,02%, Sp=100%, AUROC = 0,998, PPV= 100%, NPV = 60,9 %).  Điểm ISS: 7,12 ± 6,41 ( 1- 75), có giá trị phân loại và tiên lượng nguy cơ tử vong với điểm cắt  ISS= 21 (Se = 98,00%, Sp=99,57%, AUROC = 0,999, PPV= 77,78%, NPV = 99.979 %).  Điểm TRISS: 0,839 ± 0,098 ( 0.001- 0,898), có giá trị phân loại và tiên lượng nguy cơ tử vong với điểm cắt  Ps = 0,538 (Se = 99,6%, Sp=100%, AUROC = 0,999, PPV= 100%, NPV = 79,37 %).

- Theo phương pháp TRISS có 04 bệnh nhân tử vong có thể phòng tránh được với khả năng sống sót ≥ 0,5 và 02 bệnh nhân sống sót ngoại dự kiến với khẳ năng sống sót < 0,25.

- Chỉ số tử vong chuẩn (SMP) đối với BN chấn thương cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình là 1,61 (50/31).

1.     ĐẶT VẤN ĐỀ

Chấn thương nói chung là một vấn đề quan trọng của y tế và toàn xã hội: đa số nạn nhân ở tuổi lao động, tỷ lệ tử vong cao và di chứng nặng nề. Số nạn nhân tử vong do chấn thương hàng năm không ngừng gia tăng tại Việt Nam. Khoảng 50% các trường hợp tử vong do chấn thương xảy ra ngay trong giờ đầu tiên sau tai nạn, 30% xảy ra sau  vài giờ. Chỉ có 20% tử vong xảy ra muộn từ 2 đến 6 tuần sau tai nạn. Chính vì vậy cấp cứu, xử lý đúng trong những giờ đầu sau tai nạn được coi là những vấn đề chính để làm giảm tử vong do chấn thương. Việc đánh giá đúng độ nặng của chấn thương và tiên lượng sớm theo các tiêu chuẩn quốc tế cho phép đưa ra các quyết định xử lý đúng đắn trong cấp cứu, đặc biệt tại các tuyến dưới. Đánh giá độ nặng và tiên lượng theo các tiêu chuẩn quốc tế còn là công cụ tin cậy, là cơ sở khoa học khi đánh giá kết quả điều trị của từng BN chấn thương hay của cả hệ thống điều trị. Tỉnh Ninh Bình có gần một triệu dân, nằm trên đường quốc lộ 1A, là khu vực giao thông phức tạp nhiều tai nạn giao thông xảy ra. Tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình, việc đánh giá độ nặng, tiên lượng và đánh giá kết quả điều trị chấn thương còn mang tính chủ quan và không hệ thống. Do đó việc nghiên cứu và áp dụng các bảng điểm đánh giá độ năng chấn thương trên lâm sàng là yêu cầu thiết yếu trong giai đoạn hiện nay. Từ những lý do trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu giá trị của bảng điểm RTS, ISS, TRISS để đánh giá độ nặng và tiên lượng tử vong ở bệnh nhân chấn thương tại bệnh viện tuyến tỉnh” nhằm hai mục tiêu sau:

1.Xác định giá trị của bảng điểm RTS, ISS, TRISS trong phân loại độ nặng nhẹ và tiên lượng tử vong ở bệnh nhân chấn thương ở Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình.

2.Đánh giá kết quả sống chết sau điều trị theo bảng điểm TRISS ở bệnh nhân chấn thương tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình.

2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1.Đối tượng nghiên cứu

2.1.1.Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân

- BN chấn thương được cấp cứu, khám và điều trị tại khoa Cấp cứu, khoa Khám bệnh và một số khoa khác có liên quan của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình.

- Tuổi ≥ 10. Thời gian từ khi bị tai nạn đến khi được phẫu thuật ≤ 72 giờ.

- Không có các bệnh nội khoa phối hợp như: tim mạch, hô hấp.

2.1.2.Tiêu chuẩn loại trừ bệnh nhân

- Thiếu các tiêu chuẩn lựa chọn. Không được đánh giá đầy đủ theo các yếu tố tiên lượng.

- BN đã chết lâm sàng khi đến bệnh viện: mất tri giác, ngừng thở, ngừng tim. BN tử vong trong bệnh viện do nguyên nhân khác không liên quan đến chấn thương.

- BN được chuyển tuyến trên.

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Thiết kế nghiên cứu

Thuộc loại nghiên cứu mô tả một loạt các trường hợp, nghiên cứu tiến cứu.

Thời gian thực hiện: từ năm 2008 đến năm 2011. Cỡ mẫu: 3419 bệnh nhân.

2.2.2.Cách thức tiến hành

Đánh giá điểm RTS: đánh giá các chỉ số sau: tần số thở trong một phút, huyết áp tâm thu đo bằng máy đo huyết áp thủy ngân, tri giác theo bảng điểm Glasgow.

Đánh giá điểm ISS:

- Tổn thương giải phẫu tại các thời điểm: khi vào viện, trước trong và sau mổ, khi ra viện, khi mổ tử thi nếu có.

- Tổn thương giải phẫu được chia làm sáu vùng: sọ não và cổ, hàm mặt, ngực, bụng, các chi, da và tổ chức dưới da.

- Tất cả bệnh nhân được theo dõi từ khi vào viện cho đến khi ra viện, chuyển viện hay tử vong.

Dựa vào khả năng sống sót (Ps) của từng BN xác định từng nhóm BN tử vong có thể phòng tránh (PS ≥ 0,5) và nhóm BN sống sót ngoài dự kiến (PS < 0,25).

2.2.3. Xử lý và phân tích số liệu

Phần mềm được sử dụng để sử lý và phân tích số liệu là SPSS 16.0.

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm chung của bệnh nhân chấn thương

Bảng 3.1. Đặc điểm về tuổi

Nhóm tuổi

Số BN

Tỷ lệ %

BN tử vong (%)

≤18

490

14,3

3 (0,6)

19-29

1187

34,7

16 (1,4)

30-39

558

16,3

8 (1,4)

40-49

458

13,4

8 (1,8)

50-59

355

10,4

6 (1,7)

≤60

371

10,9

9 (2,4)

Tổng

3419

100

50 (1,5)

Nhận xét:

-BN chấn thương chủ yếu ở nhóm tuổi 19-29 (34,7%)

-BN chấn thương ở độ tuổi lao động chiếm 74,8% (19 - 59 tuổi).

Bảng 3.2. Đặc điểm về giới

Giới

Số BN

Tỷ lệ %

BN tử vong (%)

Nam

2454

71,8

41 (1,7)

Nữ

965

28,2

9 (0,9)

Tổng

3419

100

50 (1,5)

Nhận xét:

-BN chấn thương là nam giới nhiều hơn BN chấn thương là nữ giới (71,8% so với 28,2%)

3.2. Giá trị của bảng điểm RTS, ISS trong phân loại độ nặng và tiên lượng tử vong ở bệnh nhân chấn thương.

3.2.1. Giá trị của bảng điểm RTS trong phân loại độ nặng và tiên lượng tử vong

Bảng 3.3. Kết quả điều trị và điểm RTS

Kết quả điều trị

Số BN

RTS

p

Max

Min

x ± SD

Ra viện

3256

12

6

11,95 ± 0,33

P < 0,001

Tử vong

50

10

0

7,06 ± 2,82

Tổng

3306

12

0

11, 88 ± 0,76

 

Nhận xét:

- Nhóm BN ra viện có điểm RTS trung bình cao hơn so với nhóm BN tử vong (11,95 ± 0,33 so với 7,06 ± 2,82), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với P < 0,001.

Bảng 3.4. Độ nhạy, độ đặc hiệu, PPV và NPV với một số điểm cắt RTS

Điểm cắt RTS

Se

Sp

PPV

NPV

7

99,91

36,00

99,03

85,71

8

99,97

56,00

99,33

80,00

9

99,60

86,00

99,78

76,79

10

99,02

100

100

60,98

11

96,78

100

100

32,26

Nhận xét:

- Điểm cắt RTS tiêm lượng tốt nhất trong nghiên cứu của chúng tôi là RTS = 10 với độ nhậy 99,02%, độ đặc hiệu 1005, AUROC = 0,998 (có giá trị tiên lượng tốt).

3.2.2. Giá trị của bảng điểm ISS trong phân loại độ nặng và tiên lượng tử vong.

Bảng 3.5. Kết quả điều trị và điểm ISS

Kết quả điều trị

Số BN

ISS

p

Max

Min

X ± SD

Ra viện

3256

30

1

6,57 ± 3,927

p  < 0,001

Tử vong

50

75

17

42,56 ± 21,214

Tổng

3306

75

1

7,12 ± 6,415

 

Nhận xét:

- Nhóm BN ra viện có điểm ISS trung bình thấp hơn so với nhóm BN tử vong (6,57 ± 3,927 so với 42,56 ± 21,214), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với  p  < 0,001.

Bảng 3.6. Độ nhạy, độ đặc hiệu, PPV và NPV với một số điểm cắt IS

Điểm cắt ISS

Se

Sp

PPV

NPV

19

98,00

98,74

54,44

99,97

20

98, 00

99,17

64,47

99,97

21

98, 00

99,57

77,78

99,97

22

98, 00

99,57

77,78

99,97

23

98, 00

99, 57

77,78

99,97

24

98, 00

99,57

77,78

99,97

25

88,00

99,82

88,00

99,82

26

72,00

99,94

94,74

99,57

Nhận xét:

- Điểm cắt IS tiên lượng tốt nhất trong nghiên cứu của chúng tôi là ISS = 21 với độ nhạy 98,00%, độ đặc hiệu 99,57%. AUROC = 0,999 (có giá trị tiên lượng tốt).

3.3. Kết quả sống chết sau điều trị theo bảng điểm TRISS ở bệnh nhân chấn thương

Bảng 3.7. Kết quả điều trị và khả năng sống sót (Ps)

Kết quả điều trị

Số BN

Khả năng sống sót (Ps)

p

Max

Min

x ± SD

Ra viện

3256

0,898

0,140

0,849 ± 0,054

P < 0,001

Tử vong

50

0,538

0,001

0,199 ± 0,178

Tổng

3306

0,898

0,001

0,839 ± 0,098

 

Nhận xét:

- Nhóm BN ra viện có Ps trung bình cao hơn so với nhóm BN tử vong (0,849 ± 0,054  so với 0,199 ± 0,178), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với P < 0,001.

 Bảng 3.8. Độ nhạy, độ đặc hiệu, PPV và NPV với một số điểm cắt Ps

Điểm cắt Ps

Se

Sp

PPV

NPV

0,536

99,60

98,00

99,97

79,03

0,537

99,60

98,00

99,97

79,03

0,538

99,60

100

100

79,37

0,539

99,60

100

100

79,37

0,540

99,60

100

100

79,37

0,575

99,60

100

100

79,37

0,576

99,51

100

100

75,76

0,586

99,48

100

100

74,63

 Nhận xét:

- Điểm cắt Ps tiên lượng tốt nhất trong nghiên cứu của chúng tôi là Ps = 0,538 với độ nhạy 99,60 %, độ đặc hiệu 100%, AUROC = 0,999 (có giá trị tiên lượng tốt).

Bảng 3.9. Kết quả điều trị và BN tử vong có thể phòng tránh, BN sống sót ngoài dự kiến

Ps

Kết qủa  điều trị

Ra viện

Tử vong

Số BN

Tỷ ệ %

Số BN

Tỷ lệ %

< 0,25

2

0,1

29

58,0

0,25 - < 0,50

7

0,2

17

34,0

≥ 0,50

3247

99,7

4

8,0

Tổng

3256

100

50

100

 Nhận xét:

- BN tử vong có thể phòng tránh: 4. BN sống sót ngoài dự kiến: 2.

- Chỉ số tử vong chuẩn SMR= 50/31 = 1,61.

4. BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm chung của bệnh nhân chấn thương

Trong nghiên cứu của chúng tôi, đa số BN chấn thương ở độ tuổi lao động và là nam giới. Nhóm tuổi 19-59 chiếm 74,8%, trong đó nhóm tuổi 19-29 chiếm 34, 7%. BN chấn thương là nam giới nhiều hơn hẳn BN chấn thương là nữ giới (71,8% so với 28,2%, tỷ lệ 2,5: 1). Đặc điểm dịch tễ này tương tự như kết quả của nhiều nghiên cứu tại Việt Nam cũng như trên thế giới là đa số BN ở độ tuổi lao động và nam giới chiếm chủ yếu. Đây cũng là lý do cho thấy hậu quả xã hội nặng nề của chấn thương.

4.2. Giá trị của bảng điểm RTS, ISS trong phân loại độ nặng và tiên lượng tử vong ở bệnh nhân chấn thương

4.2.1 Giá trị của bảng điểm RTS trong phân loại độ nặng và tiêm lượng tử vong

Trong nghiên cứu của chúng tôi, điểm RTS trung bình là 11,88 ±  0,76, điểm RTS của nhóm BN tử vong thấp hơn so vớ nhóm BN ra viện một cách có ý nghĩa thống kê ( 7,06 ± 2,82 so với 11,95 ± 0,33, p < 0,001). Nghiên cứu của chúng tôi cũng xác nhận bảng điểm RTS có hiệu lực tiên lượng tốt đối với BN chấn thương (nguy cơ tử vong) với mốc điểm cắt là RTS =10, độ nhạy 99,02%, độ đặc hiệu là 100%, diện tích dưới đường cong (AUROC) là 0, 998, giá trị dự đoán dương tính 100%, giá trị dự đoán âm tính 60,98%. Điểm cắt tiên lượng này cao hơn so với kết quả của Nguyễn Hữu Tú và Nguyễn Trường Giang nghiên cứu tại Bệnh viện Việt Đức và Bệnh viện 103 là những trung tâm chấn thương lớn của Việt Nam. Các tác giả nhận thấy điểm cắt tiên lượng sống chết của RTS là 9 có độ nhạy 84,2%, độ chính xác 78,4%  và AUROC là 0,891. Điều này cho thấy do sự khác nhau đặc điểm dịch tễ chấn thương, khác nhau về điều kiện và chất lượng cấp cứu, điều trị chấn thương giữa bệnh viện tuyến trung ương và địa phương, vì vậy các mốc điểm dùng để tiên lượng hậu quả chấn thương có thể bị thay đổi.

4.2.2. Giá trị của bảng điểm ISS trong phân loại độ nặng và tiên lượng tử vong

Trong nghiên cứu  của chúng tôi, điểm ISS trung bình của BN là 7,12 ± 6, 415, điểm ISS của nhóm BN tử vong cao hơn một cách đáng kể so với nhóm BN ra viện.  ( 42,56 ± 21,21 so với 6, 57 ± 3,92, p < 0,001 ). Nghiên cứu của chúng tôi cũng xác nhận bảng điểm ISS có giá trị trong tiên lượng hậu quả chấn thương (nguy cơ tử vong). Khi đặt đường cắt tiên lượng ở các mức điểm ISS khác nhau chúng tôi nhận thấy điểm cắt tốt nhất là ISS= 21 với độ nhạy 98,00%, độ đặc hiệu 99,57%, diện tích dưới đường cong (AUROC) = 0,999. Điểm cắt này thấp hơn so với điểm cắt trong nghiên cứu của Nguyễn Trường Giang, IS = 27, độ nhạy 85,8%, độ đặc hiệu 74,8% diện tích dưới đường cong (AUROC) = 0,896. Điều này là do đối tượng nghiên cứu của Nguyễn Trường Giang là những BN đa chấn thương nặng có ISS ≥ 18 khi nhập viện. Điểm cắt này cũng thấp hơn điểm cắt trong nghiên cứu của Nguyễn Hữu Tú và cộng sự trên các BN chấn thương nói chung tại Bệnh viện Việt Đức với ISS = 25. Điều này có ý nghĩa đối với các thày thuốc lâm sàng trong việc tiên lượng và đưa ra các chiến lược điều trị phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cấp cứu tại tuyến tỉnh.

4.2.3. Giá trị của bảng điểm TRISS trong phân loại độ nặng và tiên lượng tử vong do chấn thương

Trong nghiên cứu của chúng tôi, nhóm BN tử vong có khả năng sống sót (Ps) thấp hơn một cách đáng kể so với nhóm BN ra viện, 0,199 ± 0, 178 so với 0,849 ± 0,054, p< 0,001. Khi đặt đường cắt tiên lượng tại các mức Ps khác nhau, chúng tôi nhận thấy điểm cắt tiên lượng tốt nhất của bảng điểm TRISS là Ps = 0,538 với độ nhạy 99,6%, độ đặc hiệu 100%, AUROC = 0,999, giá trị dự đoán dương tính 100% và giá trị dự đoán âm tính 79,37%. Nhóm BN có Ps ≤ 0,538  có  tỷ lệ tử vong 79,45, trong khi nhóm bệnh nhân có Ps < 0,538 không có BN nào tử vong (p < 0,001). Như vậy, có thể thấy nhờ sự kết hợp điểm RTS, điểm ISS và tuổi BN bảng điểm TRISS có giá trị phân loại và tiên lượng cao hơn hẳn so với các bảng điểm RTS hoặc điểm ISS khi dùng riêng lẻ.

Trong một nghiên cứu của Nguyễn Hữu Tú trên 3217 BN chấn thương tại Bệnh viện Việt Đức, bảng điểm TRISS có hiệu lực tiên lượng với AUROC = 0,94, giá trị dự đoán dương tính là 77% và khả năng dự lượng sai sót là 3,4%. Nghiên cứu này cũng xác nhận phương pháp TRISS cho phép tiên lượng sống chết chính xác hơn các bảng điểm  RTS (AUROC = 0,9, PPV = 66%), điểm ISS (AUROC = 0,91, PPV = 54%) khi sử dụng riêng lẻ. Kết quả tương tự cũng đã được khẳng định trong nghiên cứu trước đây của các tác giả nước ngoài.

Tương tự như các bảng điểm RTS và điểm ISS, mốc tiên lượng của bảng điểm TRISS trong nghiên cứu này khác với kết quả trong các nghiên cứu tại các trung tâm chấn thương cũng như của các tác giả nước ngoài. Trong nghiên cứu này, Ps = 0,538 được xác định là mốc tiên lượng đối với nguy cơ tử vong. Như vậy nghiên cứu của chúng tôi cho thấy các mốc tiên lượng nguy cơ tử cong đã thay đổi khi áp dụng các bảng điểm quốc tế tại bệnh viện tuyến tỉnh, phù hợp với đặc điểm dịch tễ chấn thương, độ nặng và chất lượng của hệ thống điều trị. Chúng tôi hy vọng kết quả này có thể giúp cho các bác sỹ lâm sàng tại các tuyến tỉnh đánh giá độ nặng và tiên lượng chấn thương chính xác hơn, nhờ đó có các can thiệp điều trị kịp thời và phù hợp hơn.

4.3. Kết quả sống chết sau điều trị theo bảng điểm TRISS ở bệnh nhân chấn thương.

Phương pháp TRISS là một phương pháp dùng để đánh giá khả năng sống sót của BN chấn thương dựa vào 03 yếu tố là điểm RTS, điểm ISS và tuổi BN. Khả năng sống sót của BN chấn thương được tính theo phương trình Cox, các hệ số của phương trình này khác nhau giữa các nước. Trong nghiên cứu này, các hệ số được lấy theo các hệ số mà Bệnh viện Việt Đức đang áp dụng. Khi đó, khả năng sống sót trung bình ở nhóm bệnh nhân ra viện cao hơn hẳn so với nhóm BN tử vong. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001. Điểm cắt Ps tiên lượng tốt nhất là Ps = 0,538 với độ nhạy 99,6%, độ đặc hiệu 100%, AUROC = 0,999.

BN tử vong có thể phòng tránh là những BN có kết quả điều trị là tử vong mà có Ps ≥ 0,50. BN sống sót ngoài dự kiến là những BN có kết quả điều trị là sống có Ps < 0,25. Trong nghiên cứu này, số BN có thể phòng tránh là 04, số BN sống sót ngoài dự kiến là 02. Các BN tử vong có thể phòng tránh của chúng tôi đều được gia đình xin về, không tiến hành mổ tử thi, vì vậy không thể đưa ra chẩn đoán chắc chắn về lý do tử vong. Tuy nhiên khi xem xét lại quá trình điều trị các BN này chúng tôi cũng nhận thấy có những thiếu sót, khiếm khuyết từ nhân viên y tế hoặc từ hệ thống của bệnh viện.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, SMR được tính từ các BN được tiên lượng tử vong theo phương pháp TRISS và các BN tử vong trong thực tế. SMR = 1,61 đã phản ánh một cách khách quan chất lượng của hệ thống cấp cứu điều trị chấn thương tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình so với các trung tâm lớn như Bệnh viện Việt Đức (SMR = 1,1 theo nghiên cứu của Nguyễn Hữu Tú). Như vậy, ngoài việc là công cụ để sàng lọc, xem xét và đánh giá kết quả điều trị của các BN chấn thương, phương pháp TRISS còn cho phép xác định chỉ số tử vong chuẩn. Đây đang được coi là một chỉ số quan trọng trong đánh giá tổng thể và khách quan chất lượng của hệ thống điều trị chấn thương theo thời gian cũng như trong nghiên cứu so sánh giữa các cơ sở y tế khác nhau.

5. KẾT LUẬN

5.1. Giá trị của bảng điểm RTS, ISS, TRISS trong phân loại độ nặng và tiên lượng tử vong ở BN chấn thương.

Bảng điểm RTS:

- Điểm trung bình 11,8 ± 0,76 điểm (0-12), có giá trị phân loại và tiên lượng nguy cơ tử vong do chấn thương với điểm cắt RTS = 10 (Se = 99,02%, Sp = 100%, AUROC = 0,998, PPV = 100%, NPV = 60,98%).

- Nhóm BN tử vong có điểm RTS thấp hơn có ý nghĩa so với nhóm BN ra viện (7,06 ± 2,82 so với 11,95 ± 0,33, p < 0,001 ).

Bảng điểm ISS:

- Điểm trung bình 7,12 ± 6,41 điểm (1-75), có giá trị phân loại và tiên lượng nguy cơ tử vong với điểm cắt ISS = 21 (Se = 98,00%, Sp = 99,57%, AUROC = 0,999, PPV = 77,78%, NPV = 99,97%).

- Nhóm BN tử vong có điểm ISS cao hơn có ý nghĩa so với nhóm BN ra viện (42,45 ± 21,21 so với 6,57 ± 3,92, p < 0,001).

Bảng điểm TRISS:

- Khả năng sống sót (Ps) trung bình 0,839 ± 0,098 (0,001- 0,898) có giá trị phân loại và tiên lượng nguy cơ tử vong với điểm cắt Ps = 0,538 (Se = 99,6%, Sp = 100%, AUROC = 0,999, PPV = 100%, NPV = 79,37%).

- Nhóm BN tử vong có Ps thấp hơn một cách có ý nghĩa so với nhóm BN ra viện (0,199 ± 0,178 so với 0,849 ± 0,054, p < 0,001).

5.2. Kết quả sống chết sau điều trị theo bảng điểm TRISS ở BN chấn thương.

Trong 3306 BN chấn thương được theo dõi cho đến khi tử vong hoặc ra viện có 3256 BN ra viện với khả năng sống sót trung bình 0,849 ± 0,054 (0,140 - 0,898) và 50 BN tử vong với khả năng sống sót trung bình 0,199 ± 0,178 (0,001 - 0,538).

Theo phương pháp TRISS có 04 BN tử vong có thể phòng tránh được với khả năng sống sót (Ps) ≥ 0,5 và 02 BN sống sót ngoài dự kiến với khả năng sống sót (Ps) < 0,25.

Chỉ số tử vong chuẩn (SMR) đối với BN chấn thương cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình là 1,61 (50/31).

TS. Lê Hữu Quý - Giám đốc Sở Y tế Ninh Bình



 Bản để inIn bản tin  Lưu dạng fileLưu bản tin  Gửi tin qua emailGửi cho bạn


 

Gửi ý kiến của bạn về bài viết
Tên bạn:
Email:
Thảo luận





Gửi tin
Lên đầu trang
        Cataloge
        Thông tin y tế

Tập huấn vệ sinh an toàn thực phẩm cho hội viên nông dân

Cập nhật: 23.06.2017 14:48

Ngày 22/6, Hội Nông dân tỉnh tổ chức lớp tập huấn an toàn vệ sinh thực phẩm cho 40 hội viên nông dân trên địa bàn phường Đông Thành, thành phố Ninh Bình.
Chuyên gia y tế cảnh báo vào mùa viêm não Nhật Bản Đã có kết quả về chùm ca bệnh gây tử vong cho ba bệnh nhi tại Cao Bằng
Tôn vinh 100 người hiến máu tình nguyện tiêu biểu năm 2017 Không dùng Hydrocortisone trong nhiễm khuẩn đang tiến triển
        Nghiên cứu khoa học

Cắt tử cung qua nội soi tại Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Ninh Bình

Cập nhật: 21.10.2014 14:28

1/ Mục tiêu* Đánh giá kết quả cắt tử cung hoàn toàn qua nội soi có cần nâng.* Đánh giá sự hài lòng và chi phí điều trị của người bệnh.
Thái độ xử trí bệnh nhân chấn thương sọ não nguy cơ thấp Cắt tử cung hoàn toàn qua nội soi tại Bệnh viện Sản nhi tỉnh Ninh Bình".
Sử dụng ống hút mềm để lấy máu truyền hoàn hồi trong phẫu thuật nội soi chửa ngoài tử cung vỡ tại Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Ninh Bình năm 2014 24 đề cương đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành được xét duyệt
         Đơn vị ngành
Truyền thông trực tiếp phòng chống dịch bệnh tại cộng đồng
Nhằm tăng cường hiệu quả của công tác phòng, chống dịch bệnh tại cộng đồng, thời gian qua Trung tâm Truyền thông giáo dục sức khỏe tỉnh đã tổ chức nhiều hoạt động truyền thông nhất là truyền thông trực tiếp tại cộng đồng.
Thông tư Quy định giá tối đa và chi phí phục vụ cho việc xác định giá một đơn vị máu toàn phần, chế phầm máu đạt tiêu chuẩn
Ngày 14/4/2017, Bộ Y tế ban hành Thông tư số 05/2017/TT-BYT quy định tối đa và chi phí phục vụ cho việc xác định giá một đơn vị máu toàn phần, chế phẩm máu đạt tiêu chuẩn. Thông tư này quy định mức giá tối đã của một số đơn vị máu toàn phần và chế phẩm máu đạt tiêu chuẩn do ngân sách nhà nước, Quỹ bảo hiểm y tế chi trả và chi phí phục vụ cho việc đính giá của một đơn vị máu toàn phần, chế phẩm máu đạt tiêu chuẩn.
Công văn V/v tăng cường công tác bảo đảm an toàn thực phẩm Tết Nguyên đán Đinh Dậu và mùa Lễ hội Xuân 2017.
Để bảo đảm an toàn thực phẩm Tết Nguyên đán Đinh Dậu, mùa Lễ hội Xuân 2017, Sở Y tế yêu cầu các đơn vị triển khai ngay một số nội dung sau:
Trung tâm Chăm sóc sức khỏe sinh sản tỉnh Ninh Bình
Địa chỉ: Số 26 Đường Lý Tự Trọng - Phường Phúc Thành - TP. Ninh Bình
Điện thoại: 0303.872.032 Fax: 0303.874.380
Email: trungtamcsskssnb@gmail.com
Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm Ninh Bình
Địa chỉ: Đường Kim Đồng phường Phúc Thành thành phố Ninh Bình,
ĐT: 030.3889289
[Bản Tin Khác ...]

Tìm trên trang
Tìm bằng Google
Tháng Sáu 2017
T2T3T4T5T6T7CN
      1 2 3 4
5 6 7 8 9 10 11
12 13 14 15 16 17 18
19 20 21 22 23 24 25
26 27 28 29 30    
 <  > 
Cắt tử cung qua nội soi tại Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Ninh Bình
Thái độ xử trí bệnh nhân chấn thương sọ não nguy cơ thấp
Cắt tử cung hoàn toàn qua nội soi tại Bệnh viện Sản nhi tỉnh Ninh Bình".
Sử dụng ống hút mềm để lấy máu truyền hoàn hồi trong phẫu thuật nội soi chửa ngoài tử cung vỡ tại Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Ninh Bình năm 2014
24 đề cương đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành được xét duyệt
Nghiên cứu giá trị của bảng điểm RTS, ISS, TRISS để đánh giá độ nặng và tiên lượng tử vong ở bệnh nhân chấn thương tại bệnh viện tuyến tỉnh
Đánh giá thực trạng, nhận thức, thái độ, hành vi và một số yếu tố liên quan của người dân Ninh Bình với vấn đề giới tính khi sinh.
Ứng dụng kỹ thuật cắt tử cung hoàn toàn đường âm đạo tại bệnh viện Sản - Nhi tỉnh Ninh Bình (2009-2010)
Danh sách đề tài nghiên cứu khoa học báo cáo nghiệm thu năm 2010
Danh sách đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành năm 2010 bảo vệ đề cương
Trang chủ Liên hệ/Góp ý        
* Thông Tin Y Tế Ninh Bình *
- Website xem tốt nhất trên trình duyệt FireFox với độ phân giải 1024 x 768 px
- Thông tin trên website được tổng hợp từ nhiều nguồn khác nhau.
- Bản quyền, quản trị, phát triển : Trung tâm truyền thông giáo dục sức khỏe Ninh Bình